Nấm mốc là tác nhân chủ yếu phá hoại “hệ thần kinh” và lăng kính của kính hiển vi. Nấm làm giảm chất lượng của các thấu kính một cách đáng kể. Thấu kính bị phủ một lớp mốc, làm mất tính trong suốt, các sợi nấm phân tán ánh sáng làm cho ảnh mất sắc nét.

Nấm mốc và ảnh hưởng của chúng

Nấm mốc là một loại nấm sợi điển hình, gồm tất cả các loại nấm nhưng không phải nấm men và cũng không phải mũ nấm. Bình thường, ít ai biết về nấm mốc và thường nghĩ là nấm mốc chỉ gây tác hại: Chúng phát triển nhanh trong bóng tối, ở những nơi ẩm thấp, làm hỏng thức ăn và gây bệnh. Nhưng đó là những nấm gây tác hại cho con người, đôi khi ta cũng lợi dụng được chúng như dùng nấm lên men rượu, làm tương, làm pho-mat, thuốc kháng sinh….

Cũng từng có ý kiến cho rằng, khoảng từ 2.000 năm trước đây, lần đầu tiên vi sinh vật này được dùng làm dấm ăn. Từ đó đến nay, ứng dụng của nấm đã không ngừng mở rộng, kể cả trong sản xuất thực phẩm lẫn thuốc men.

nấm mốc

Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu thực sự về nấm mới bắt đầu từ 100 năm nay, lĩnh vực này trở nên rất sâu rộng và có thể sánh ngang với lĩnh vực điện tử và quang học. Nấm mốc cũng có thể mọc và hủy hoại trên bất cứ chất gì, sự bảo vệ chống nấm phá hoại trở nên khẩn cấp trong nhiều lĩnh vực. Ví như nấm có thể ăn mòn các khoang chứa nhiên liệu bằng nhôm của máy bay, gây ra sự rò rỉ, nấm mọc trên các linh kiện điện tử IC làm hỏng các khí tài quang học.

sự nghiên cứu về nấm

Nấm mọc trên bề mặt thấu kính

Đối với bề mặt các thấu kính, 50% thấu kính bị mất phẩm chất vì có một lớp mờ phủ tạo nên bởi một vài loại nấm. Những nấm này gồm 2 loại: Aspergillus restrictus và Eurotiumtonophilum Ohtsuki. Hai loại này được đặt tên theo tên của Tiến sĩ người Nhật Bản tên là Torao Ohtsuki, người đã tìm thấy chúng trong quá trình nghiên cứu phương pháp nuôi cấy và phòng chống nấm mốc.

Hai loại này đều thuộc giống Aspergillus dùng trong quy trình sản xuất rượu. Chúng phát triển nhanh trong môi trường nóng, ẩm. Aspergillus là một giống bao gồm vài trăm loài nấm khác nhau. Các loài Aspergillus có tính ưa khí cao và tìm thấy trong hầu hết các vùng môi trường giàu oxy. Ở đó chúng thường phát triển như mốc trên bề mặt các chất cần có nhu cầu oxy cao. Các loài Aspergillus thường gây ô nhiễm trên các thực phẩm có tính tinh bột nhiều (bánh mì và khoai tây) và phát triển trong nhiều loại thực vật khác nhau.

Nấm mọc được ở môi trường có ít hơi nước, áp suất thẩm thấu bên trong sợi nấm có thể đạt tới 200 atm. Khả năng đó cho phép các tế bào nấm hút được hơi nước trong khí quyển một cách dễ dàng. Tuy nhiên khả năng hút được hơi ẩm quá cao đó lại có thể phá vỡ các tế bào của nấm khi chúng được đặt trong môi trường có độ ẩm 100% hay được dìm trong nước. Trái lại, nếu áp suất thẩm thấu bên trong sợi nấm thấp dưới 10 atm thì chúng vẫn sống được.

Kính hiển vi soi nổi Olympus SZ61
Kính hiển vi soi nổi Olympus SZ61

Những tổn thương do nấm gây ra

Nấm làm giảm chất lượng của các thấu kính một cách đáng kể. Thấu kính bị phủ một lớp mờ mốc mất tính trong suốt, các sợi nấm phân tán ánh sáng làm cho ảnh mất sắc nét.

Dù nấm đã mọc được trên mặt thấu kính, rễ của nó thường chưa bám chặt vào bề mặt của thấu kính thì có thể lau để cứu vãn chất lượng của kính. Nếu rể nấm để lại những vết ăn mòn độ trong suốt của kính không cứu vãn được nữa, sự việc đó xảy ra như thế nào? Đó là khi có các sợi nấm bám vào bề mặt thấu kính, để lâu hơi nước sẽ tích tụ lại tại đó, hơi nước sẽ hòa tan với một axit hữu cơ do nấm tiết ra và ăn mòn mặt bóng của thấu kính;

Nghĩa là một cơ chế sinh học phức tạp kết hợp với một phản ứng hóa học đã xảy ra trên bề mặt của thấu kính. Khi ấy, chỉ còn một giải pháp là thay bỏ cái thấu kính đó bằng một cái mới.

Bảo vệ chống nấm trong điều kiện tự nhiên:

Điều kiện: Nhiệt độ đủ thấp, môi trường khô độ ẩm thấp, bề mặt không có chất dinh dưỡng, thông thoáng gió, thỉnh thoảng được phơi nắng và điều kiện tối ưu thay đổi tùy theo vùng khí hậu.

Với điều kiện tự nhiên của vùng Á Đông, không thể ngăn cản nấm mốc phát triển được, trừ phi đặt kính hiển vi trong phòng vô khuẩn. Trái lại ở châu Âu và Bắc Mỹ là những nơi mà nấm mốc khó phát triển vì ở đó độ ẩm suốt mùa hè thấp, nhiệt độ thì cao và suốt mùa đông có độ ẩm cao thì nhiệt độ lại thấp.

Riêng về kính Olympus, hãng này có tác phong thường hỏi người sử dụng, được biết họ thao tác và cất giữ những kính hiển vi đã được tẩy rữa và lau chùi sạch trong buồng có máy điều hòa không khí. Nhưng cách đó rất tốn kém mà cũng không làm cho nấm hoàn toàn không không mọc được. Những bào tử nấm có tiềm năng chịu đựng cao đến mức chúng có thể nẩy mầm và tung ra những sợi nấm ngay được một khi có độ ẩm và nhiệt độ thích hợp, kể cả khi ở đó không có chất dinh dưỡng. Nó giống như những hạt đậu nảy mầm, bào tử nấm sử dụng những chất dự trữ sẵn có bên trong chúng.

Bảo vệ kính hiển vi khỏi nấm mốc

Biện pháp chống nấm trên kính của Olympus

Nấm mốc là tác nhân chủ yếu phá hoại “hệ thần kinh” và lăng kính của kính hiển vi. Từ lâu, Olympus đã dầy công nghiên cứu và thử nghiệm qua nhiều phương án chống nấm như: Chống nấm bằng cách trộn chất diệt nấm vào các chất dẻo; bằng cách phủ lớp diệt nấm lên các thấu kính; diệt nấm bằng nhiệt, bằng tia bức xạ, bằng khói hay bằng cách tạo ra môi trường kháng nấm xung quanh kính hiển vi.

Tuy có tác dụng nhưng mỗi phương án trên đều có những nhược điểm khi đưa vào thực tiễn như: việc ứng dụng phiền phức, có hạn chế tính trong suốt của thấu kính, có tác dụng trong một khoảng thời gian không lâu dài và chi phí quá cao.v.v…

Sau nhiều cố gắng vượt qua trở ngại, Olympus đã tìm được một giải pháp tốt hơn là dùng một thuốc chống nấm. Hòa chất này trong môi trường bình thường ở trạng thái rắn nhưng có tính trực tiếp “thăng hoa” thành thể hơi rất độc hại đối với nấm mà lại không độc đối với người, không ăn mòn các kết cấu của kính hiển vi và không ngưng động trên bề mặt các lăng, thấu kính cũng như không ảnh hưởng đến độ trong suốt của chúng;

Đặt thuốc này bên trong kính hiển vi, nó sẽ “thăng hoa” từ từ và liên tục cho đến khi hết và tạo ra môi trường bão hòa hơi thuốc, làm cho nấm bị tiêu diệt hoàn toàn. Thuốc được đóng thành những viên nén, bên ngoài viên thuốc lại được bọc một lớp bán thẩm, có tác dụng điều tiết nhịp độ để kéo dài tác dụng của thuốc được tới từ 3 – 5 năm.

Tuy nhiên, bên trong kính hiển vi không phải là môi trường kín vì có những khớp nối và những khu trượt, nên kỹ thuật chế tạo đã chú ý giảm đến mức thấp nhất các kẽ hở như: Rãnh trượt của ống quan sát 2 thị kính cần thiết hiệu chỉnh khoảng cách đồng tử cho thích hợp với người dùng, được lắp thật khít để tránh sự thất thoát của thuốc chống nấm và sự xâm nhập của hơi nước bên ngoài, làm cho kính bị mờ mổi khi nhiệt độ hạ thấp đột ngột vì có hiện tượng sương đọng trên các mặt trong của thấu kính.

Đối với các vật kính và thị kính, bên trong có nhiều tầng thấu kính thì khung gắn các thấu kính đó cũng được tẩm thuốc chống nấm cùng loại, để bên trong chúng cũng là những không gian không có nấm. Còn các mặt thấu kính bên ngoài của chúng phơi ra không khí thì phải phòng chống theo điều kiện tự nhiên như trên.

                                                                                                                                       T.L tổng hợp

                                                                                                Theo Viện Sốt rét Kí sinh trùng Côn trùng Quy Nhơn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.