Trong nuôi trồng thủy sản, pH và độ kiềm là hai yếu tố môi trường rất quan trọng. Độ pH hay còn gọi là độ axit, độ chua của nước. Yếu tố này dễ biến động nhất sau những cơn mưa lớn, có thể làm giảm sức đề kháng của tôm cá. Giá trị pH biểu diễn cũng là sự hiện diện của ion H+ trong môi trường nước.

Duy trì pH phù hợp

Nên duy trì độ pH ở mức thích hợp từ 7,5 – 8,5; dao động giữa sáng và chiều không quá 0,5 đơn vị. Để tránh tình trạng pH thấp, người nuôi cần gây tảo và giữ màu nước thích hợp đảm bảo độ trong 30 – 40 cm. Trong quá trình nuôi, nếu pH <7,5 cần bón vôi (CaCO3, Dolomite) với liều lượng 10 – 20 kg/1.000 m3 nước. Vôi sẽ giúp trung hòa acid tránh giảm độ pH đột ngột và giúp nước ao không bị đục sau khi mưa. Ngoài ra, để hạn chế phèn trên bờ ao rửa xuống ao khi mưa làm giảm pH và đục nước, bà con nên sử dụng vôi đá sống CaO rãi đều trên bờ ao. Khi pH cao, cần sử dụng mật đường với liều lượng 3 kg/1.000 m3 kết hợp sử dụng vi sinh hoặc dùng Acid acetic với liều 10 – 20 kg/1.000 m3 nước.

Kiểm soát độ kiềm và độ mặn

Khi độ kiềm thấp, người nuôi sử dụng Dolomite với liều lượng 15 – 20 kg/1.000 m3 vào ban đêm cho đến khi đạt yêu cầu. Khắc phục độ kiềm cao, sử dụng EDTS (EthyleneDiamineTetraacetic Acid) với liều lượng 2 – 3 kg/1.000 m3 vào ban đêm. Tùy tình hình thực tế môi trường ao nuôi mà điều chỉnh và bón lượng vôi cho phù hợp.

Người dân cũng cần định kỳ 10 ngày/lần bón vôi nông nghiệp CaCO3 vào lúc 20 – 21 giờ, với liều lượng 10 – 20kg/1.000m3 tùy theo độ mặn để điều chỉnh pH thích hợp. Nếu độ mặn dưới 17‰ thì điều chỉnh pH 8,2 – 8,4, trên 17‰ thì điều chỉnh pH giảm dần xuống 8,0 – 8,2, bằng 25‰ thì điều chỉnh bằng 7,7 – 7,8. Sau khi xử lý, đến 11 – 12 giờ trưa hôm sau, cấy vi sinh theo chỉ dẫn của nhà sản xuất để làm sạch môi trường.

Xử lý biến động môi trường ao nuôi (tát vôi định kỳ)

Trường hợp độ mặn nước ao nuôi tôm giảm đột ngột do mưa lớn thì phải điều chỉnh bằng nước ót (nước muối) hoặc bổ sung muối hột.

Khi tảo trong ao tôm phát triển mạnh, màu nước thay đổi, độ pH dao động trong ngày lớn hơn 0,5 thì cần thay tối thiểu 30% lượng nước trong ao, hòa tan đường cát vào nước và tạt đều khắp ao lúc 9 – 10 giờ sáng, với liều lượng 2 – 3 kg đường cát/1.000 m2; đồng thời chạy quạt, sục khí liên tục vài giờ.

Cân bằng nhiệt độ và lượng nước trong ao

Khi nhiệt độ nước ao tăng lên trên 340C, cần giảm thức ăn, bổ sung Vitamin C vào thức ăn; đồng thời tăng thời gian chạy quạt nước, sục khí. Khi nhiệt độ nước ao giảm xuống dưới 240C, có hiện tượng tôm vùi đầu, phải giảm lượng thức ăn và bổ sung Vitamin C, B – Glucan, khoáng, vi sinh đường ruột vào thức ăn, để tăng sức đề kháng.

Trong quá trình nuôi, cần hạn chế đến mức thấp nhất việc lấy nước vào ao. Khi cần thiết thì lấy nước vào ao, lắng rồi xử lý Chlorine với liều lượng 30 kg/1.000 m3, chạy quạt liên tục đến khi hết dư lượng Chlorine (khoảng 2 ngày) thì tiến hành bơm vào ao nuôi qua túi lọc.

Do tôm cần nhiều chất khoáng trong quá trình sinh trưởng nên nước ao tôm cần duy trì độ kiềm từ 120 mg/lít trở lên, bằng cách sử dụng vôi CaCO3 hoặc Dolomite và thường xuyên bổ sung khoáng cho ao nuôi vào ban đêm định kỳ 3 – 5 ngày/lần, giúp tôm nhanh cứng vỏ và lột xác đồng loạt.

image

Những lưu ý khi nuôi

Trong quá trình nuôi tôm, cần đo hằng ngày các chỉ tiêu ôxy hòa tan, pH, độ trong; riêng chỉ tiêu độ kiềm và NH3 có thể 3 – 5 ngày đo 1 lần.

Không lạm dụng việc diệt khuẩn môi trường nước ao tôm bừa bãi, nhất là cần tránh những trường hợp như tôm đang suy yếu, trong quá trình lột xác hay có các biểu hiện bệnh gan; chỉ tiến hành diệt khuẩn khi thấy màu sắc tôm thay đổi xấu, tôm đóng rong, đóng nhớt, bị phồng đuôi, đứt đuôi, đứt râu.

Hạn chế sử dụng men vi sinh trong giai đoạn đầu (giai đoạn mới thả đến 1,5 tháng tuổi).

Tháng thứ 1: giữ màu nước ao nuôi thích hợp (xanh nõn chuối) tạo sự ổn định các chỉ số môi trường pH, kiềm, nhiệt độ, ôxy hòa tan… nhằm tránh sinh tảo đáy hoặc tảo đáy phát triển quá mức.

Từ tháng thứ 2 đến thu hoạch: giữ màu nước thích hợp (xanh nâu, đục), mực nước sâu 1,2 – 1,8 m để sự dao động về nhiệt độ, ôxy hoà tan, pH giữa ngày và đêm diễn ra chậm, không gây sốc cho tôm. Duy trì các yếu tố thích hợp như: độ trong 30 – 40 cm; độ kiềm 80 – 120 mg/l; độ mặn 15 – 25‰; pH 7,5 – 8,5; ôxy hòa tan > 4 mg/lít; H2S < 0,01 mg/l; NH3 < 0,1 mg/l.

Định kỳ 20 – 25 ngày xử lý nước và đáy ao nuôi bằng chế phẩm sinh học theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Quạt nước, sục khí bổ sung ôxy từ 7 giờ tối đến 5 giờ sáng hôm sau. Có thể bổ sung thuốc bổ, thuốc đường ruột, các loại khoáng, trộn vào thức ăn tôm theo hướng dẫn của nhà cung cấp, để tăng sức đề kháng.

Cần thường xuyên quan sát phản ứng, màu sắc, đường ruột, gan tụy và phân tôm hằng ngày, thông qua kiểm tra sàn ăn. Cần chài tôm định kỳ 5 – 7 ngày hoặc sau khi ao nuôi có diễn biến xấu, như chất lượng nước xấu hay mưa kéo dài, để kiểm tra sức khỏe tôm, nhằm có biện pháp xử lý kịp thời.

                                                                                                                            T.L tổng hợp.

                                                                                                             Theo KS. Nguyễn Quang Trí.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *